Từ "cháu" linh mục Trương Bửu Diệp đến Hồng Y Phạm Minh Mẫn

Năm 1939, tại một ngôi nhà tranh ven sông Cái Rắn (Hòa Thành, Cà Mau), cậu bé Phạm Minh Mẫn mới sáu tuổi ngồi bên mâm cơm gia đình khi “Bác Hai”, linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp ghé thăm. Với giọng Nam Bộ ấm áp, cha Diệp nhìn cậu bé và nói với mẹ: “Bà Sáu cho thằng Mẫn học kinh tiếng La Tinh và giúp lễ đi”. Chỉ một ngày sau, cậu Mẫn được mẹ đánh thức từ lúc 4 giờ sáng, một mình đi bộ trong bóng tối đến nhà thờ giúp lễ. Cha Diệp không phải cha sở của họ đạo Cái Rắn, nhưng ngài thường ghé thăm gia đình cùng các cha khác. Ông nội cậu là ông Biện quản lý ruộng đất Nhà Chung do chính cha Diệp khai khẩn và giao phó. Cha mẹ cậu ông Phêrô Phạm Phú Hào (Ông Sáu Hào, người đào kênh Ba Ngàn nổi tiếng) và bà Maria Nguyễn Thị Quới đều là những tín hữu đạo đức, sẵn sàng lắng nghe lời khuyên của vị linh mục được cả lương lẫn giáo kính trọng.

Khoảng năm 1944, trong một lần thăm gia đình khác, cha Diệp lại nói với cha mẹ cậu: “Ông Bà Sáu lo cho thằng Mẫn đi tu nhà trường Cù Lao Giêng để làm linh mục”. Lời khuyên ấy như hạt giống rơi vào đất tốt. Cậu Mẫn vâng lời, bước chân vào Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng. Hè năm 1945, khi đã 11 tuổi và đang là chủng sinh, cậu cùng các cha sở chèo xuồng từ Hòa Thành lên Tắc Sậy thăm cha Diệp. Không khí lúc ấy căng thẳng vì chiến tranh. Các cha khuyên cha Diệp nên rời Tắc Sậy để tránh nguy hiểm, nhưng cha bình thản đáp: “Tôi ở lại với đàn chiên”. Cha Diệp đã chọn ở lại, xây nhà thờ, lập họ lẻ, khai khẩn đất cho dân nghèo cả Công giáo lẫn lương dân. Ngài yêu thương không phân biệt, sống chết vì đàn chiên. Chỉ ít lâu sau, cha bị sát hại năm 1945 tại Tắc Sậy, hưởng thọ 49 tuổi. Gia đình cậu Mẫn phải tản cư lên Bạc Liêu. Cậu bé chứng kiến sự ra đi của “Bác Hai” qua những câu chuyện kể lại, và hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm hồn non trẻ.

Dòng máu chứng nhân ấy không phải huyết thống ruột thịt mà là huyết thống đức tin và tình bác họ trong Giáo hội đã chảy mạnh mẽ trong cuộc đời cậu Mẫn. Sau khi tiểu chủng viện Cù Lao Giêng bị thiêu rụi năm 1945, cậu bán bánh ít, bánh tét, đánh bắt cá mưu sinh, rồi tiếp tục tu học tại Tiểu chủng viện Nam Vang (Phnom Penh). Cuộc sống thiếu thốn, có lúc ngủ trên nóc nhà, nhưng cậu vẫn kiên trì. Năm 1965, cha Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được thụ phong linh mục tại Nhà thờ Chánh tòa Cần Thơ. Ngài dành gần 30 năm “trồng người” tại các chủng viện Á Thánh Quý và Thánh Quý, đào tạo hàng trăm linh mục giữa thời kỳ khó khăn sau 1975. Ngài dạy các chủng sinh phải “đối thoại trong yêu thương”, kết hợp học tập với phục vụ người nghèo chính tinh thần mà cha Diệp đã sống: yêu thương kẻ thù, ở lại với đàn chiên dù nguy hiểm.

Năm 1993, ngài được bổ nhiệm Giám mục Phó Giáo phận Mỹ Tho, rồi năm 1998 trở thành Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn. Suốt 16 năm dẫn dắt Tổng Giáo phận, ngài tổ chức Công nghị, xây Đại chủng viện Thánh Giuse, chăm sóc di dân, vô gia cư, người nghèo. Phong cách lãnh đạo hiền lành như “ông già Nam Bộ” nhưng quyết liệt trong bác ái. Năm 2003, Đức Gioan Phaolô II phong ngài làm Hồng y vị hồng y thứ năm của Việt Nam và là người đầu tiên xuất thân từ miền Nam. Khi quỳ trước Đức Thánh Cha nhận mũ đỏ, ngài mang theo cả hành trình từ Cà Mau đến Rôma: từ chú giúp lễ dưới bàn thờ cha Diệp đến phẩm phục hồng y giữa Quảng trường Thánh Phêrô.

Ngài xúc động kể: “Người ngoại giáo và cả người vô thần đã phong thánh cho Cha lâu rồi”. Khi còn là Giám mục Phó Mỹ Tho, ngài chứng kiến bà Bí thư phường tổ chức xe đò chở cả lương dân đi hành hương kính viếng mộ cha Diệp. Tình yêu ấy vượt qua mọi ranh giới.

Author

Trung Khang
Trung Khang

Chuyên viết tin tức và bài phân tích về Giáo hội Công giáo và các vấn đề tôn giáo – xã hội quốc tế.

Đăng ký để tham gia thảo luận.

Hãy tạo một tài khoản miễn phí để trở thành thành viên và cùng tham gia bình luận.

Already have an account? Sign in

ĐỌC THÊM

Đăng ký nhận bản tin từ Kênh Công Giáo - Ephata Catholic Media

Luôn cập nhật những bài viết và tin tức chọn lọc mới nhất.

Vui lòng kiểm tra email để xác nhận. Có lỗi xảy ra, vui lòng thử lại.