Giải phẫu cấu trúc Hạnh phúc

“Bạn có nghe tiếng thì thầm của những chiếc bóng không?
Hạnh phúc này xa lạ với tôi.
Tôi đã quen với tuyệt vọng.”
— Forough Farrokhzad

Chúng ta tìm đến trị liệu tâm lý để đối diện với khổ đau, buồn bã, trầm cảm, và những chiều kích tâm lý nằm ngoài tầm với của mình. Ngay cả sau khi trải qua tư vấn, hiếm khi ta còn lại cảm giác thỏa mãn sâu xa mà ta hằng khao khát. Đây là nơi triết học bước vào.

Với Socrates, triết học về cơ bản là tìm ra cách tốt nhất để sống một cuộc đời. Ông quan sát cách đời sống vận hành trong xã hội và xem xét những ảnh hưởng đã định hình nó. Từ thời ông đến nay, các triết gia tiếp tục phát triển vô số góc nhìn về sự tồn tại của con người: từ Khắc kỷ đến Lãng mạn, thực chứng luận, vị lợi, hiện sinh, Hegel, Kant… bạn muốn gọi gì cũng được. Nhưng ngoài một vài nhận định về bản chất của tồn tại, họ giúp gì cho chúng ta? Triết học hiện sinh sẽ liên tục nhắc bạn về tính vô nghĩa của đời sống; các hệ thống đạo đức sẽ cứ vẽ nên những bức chân dung lý tưởng, rốt cuộc cũng chẳng ích gì. Cuối cùng, chúng không nhất thiết giúp bạn đối phó với những đấu tranh cảm xúc đang nhấn chìm trái tim bạn trong một cơn hỗn loạn mờ nhòe.

May mắn thay, triết học vẫn có những ứng dụng thực tiễn. Hãy xét Anicius Manlius Severinus Boethius (480–524). Bị tống giam oan uổng và chờ ngày hành quyết, ông viết một tác phẩm kinh điển: On the Consolation of Philosophy(Niềm an ủi của Triết học). Năm ngoái, khi tôi ở điểm thấp nhất, xa lạ với mọi thứ tôi từng yêu, mọi triển vọng hạnh phúc bị phá hủy, bị bỏ mặc để đối diện với nghịch cảnh khủng khiếp cùng một trái tim nặng trĩu, rỉ máu, tôi đã thấy Boethius an ủi mình.

Boethius

Boethius xuất hiện trong một chữ cái ở đầu cuốn sách The Consolations of Philosophy, vô danh, khoảng 1385

Có nhiều nguồn an ủi khác trong triết học. Camus hay Sartre có thể vỗ về bạn bằng lời đảm bảo rằng bạn có thể tự kiến tạo ý nghĩa bằng nỗ lực của chính mình, rằng vì cuộc đời không mang sẵn ý nghĩa nội tại, bạn tự do trao ý nghĩa cho nó theo bất cứ cách nào bạn muốn. Jeremy Bentham sẽ nói với bạn cách thiết lập sự thỏa mãn tập thể. Kant sẽ đưa cho bạn những công thức để duy trì hòa bình. Nhưng rất ít người trong số họ vẽ ra một bức tranh rõ ràng về hạnh phúc thực chất là gì. Điều này khiến Boethius trở thành một trường hợp hiếm hoi. Ông không bám víu vào những hy vọng giả tạo, ông từ chối mọi thứ mang tính “xây dựng” và tạo tác; thế nhưng, qua sự chân thật trong suốt, ông chỉ ra một con đường có thể dẫn đến sự thỏa mãn tự nhiên. Không đính kèm những lời hứa lớn lao về sự viên mãn phổ quát; chỉ là những lý lẽ đơn giản, bênh vực cho sự mãn nguyện cá nhân.

Boethius về cơ bản mời gọi ta chiêm niệm bản chất của hạnh phúc. Ông trực tiếp đặt vấn đề với quan niệm hạnh phúc mà ta vốn nâng niu và tin tưởng. Boethius hỏi bạn:

“Anh có thực sự trân quý thứ hạnh phúc vốn được định sẵn là sẽ qua đi không? Anh có thực sự coi trọng sự hiện diện của Nữ thần May Rủi (Fortune) trong khi anh không thể tin bà ấy ở lại, và khi bà ấy rời đi thì sẽ đẩy anh vào nỗi buồn? Và nếu không thể giữ bà ấy theo ý muốn, và nếu sự tháo chạy của bà ấy phơi bày con người trước diệt vong, thì thứ chóng tàn ấy còn là gì khác ngoài một lời cảnh báo về tai họa đang đến?”
(The Consolation of Philosophy, Quyển II, Văn xuôi 4)

Ta xem mình là may mắn khi đạt được hạnh phúc mong muốn. Nhưng “gặp may” không thể là tiêu chuẩn cấu thành hạnh phúc. Theo lời Boethius, “hạnh phúc không thể nằm ở những thứ bị cai trị bởi ngẫu nhiên”, chủ yếu vì không có gì đảm bảo nó bền lâu. Ông lập luận rằng không điều gì phù du, tạm bợ, thoáng qua có thể có giá trị đối với hạnh phúc; bởi khi thứ hạnh phúc ấy rời đi, nó đem theo một đống sầu khổ đôi khi không sao chịu nổi. Vì thế, nụ cười của vận may là “một lời cảnh báo về tai họa sắp tới”. Hạnh phúc do may rủi mang lại không phải là phúc lành như nó có vẻ.

Ông còn hỏi: một thứ tạm thời có thật sự có thể gọi là “của mình” không. Giọng Boethius khiến ta câm lặng khi ông nói: “Tôi có thể tự tin nói rằng nếu những thứ mà anh đang than khóc vì mất đi thật sự là của anh, thì anh đã không bao giờ có thể mất chúng.”

Một phần quan trọng trong lập luận của Boethius xoay quanh tính chóng qua của hạnh phúc. Nếu hạnh phúc nằm trong những thứ tạm thời, chẳng phải khổ đau cũng tạm thời hay sao? Boethius nói điều này rõ ràng và mạnh mẽ: “Nếu anh không cho rằng mình đã may mắn chỉ vì những lý do vui mừng một thời nay đã qua đi, thì giờ đây anh cũng không thể cho rằng mình đang khổ sở, bởi chính những điều tưởng như khổ sở ấy cũng đang trôi qua.”

Boethius khiến bạn tự hỏi về bản chất của nỗi khổ. Ta thường khổ, buồn, u sầu bởi vì ta đã từng nếm trải hạnh phúc trong quá khứ, nhưng hiện tại lại thiếu nó. Chính sự vắng mặt ấy gây ra khổ đau. Nếu trước đó ta chưa từng có hạnh phúc ấy, ta đã không có thứ khổ đau đang bóp nghẹt trái tim mình đến ngạt thở. Đây là lý do Boethius gọi hạnh phúc là “một lời cảnh báo về tai họa sắp tới.”

Hãy nghĩ xem. Một người khác đang sống cuộc đời gian khó giống bạn lúc này có thể không trải nghiệm nỗi khổ tương tự, bởi họ chưa từng có thứ hạnh phúc quá khứ mà bạn đã có, nên họ không thấy “thiếu”. Vì thế, cả hạnh phúc lẫn khổ đau đều không vận hành theo một bản thiết kế cứng nhắc; chúng được hình thành bởi trải nghiệm riêng của mỗi người và phụ thuộc lẫn nhau. Boethius nói rất hay: “Trong trường hợp của mỗi người chúng ta, có điều gì đó thoát khỏi tầm nhìn của kẻ chưa từng trải qua nó, nhưng lại gây kinh hoàng cho kẻ đã từng… Không gì là khổ trừ khi anh nghĩ nó là khổ; và ngược lại, mọi vận may đều là vận may tốt đối với người chịu đựng nó với sự bình thản.” Ta mất khả năng “chịu đựng (tuyệt vọng) với sự bình thản” vì những tương tác quá khứ với các trải nghiệm dễ chịu.

Có lẽ bạn sẽ đồng cảm với Boethius về khổ đau, dù không theo nghĩa hoàn toàn literal. Boethius từng có tất cả: một người vợ đẹp, hai đứa con yêu thương, danh tiếng, kính trọng, quyền lực, và đủ tiền để sống mà không bao giờ phải lo. Thế nhưng vì một cáo buộc sai, ông đột ngột mất hết và bị giam cầm. Đời hạnh phúc của ông thành một hố đen tuyệt vọng. Có thể nỗi khổ của bạn cũng sinh ra vì tương phản với thời bạn từng hạnh phúc. Giờ hãy nghĩ một chút. Ban đầu, Boethius suy sụp trong ngục vì trước đó ông từng sống đời mãn nguyện. Nếu trước đó ông đã sống như người vô gia cư không có gì, thì chính căn phòng giam ấy có thể đã trở nên “chịu được”, vì ít ra còn có mái che và chút thức ăn trên đĩa, dù mái nhà tối và ẩm, hay thức ăn ôi thiu bốc mùi. Điều này cho thấy kết cấu của hạnh phúc mang tính chủ quan đến mức nào.

Boethius giải cấu trúc quan niệm phổ biến về hạnh phúc, phân rã nó thành một viễn cảnh đời sống khá “tầm thường”, trái với niềm tin rằng đó là một điều trọng đại. Ông tin rằng chính ý niệm hạnh phúc của chúng ta đã được tẩm ướp bằng khổ đau. Ông tuyên bố: “hạnh phúc của đời người khốn khổ biết bao; nó không ở lại lâu với người kiên nhẫn, và cũng không làm thỏa mãn kẻ đang phiền muộn.”

Vậy nếu hạnh phúc đúng là thứ tất yếu khiến người ta không thỏa mãn, thì nó có đáng được đặt quá cao không? Boethius không đồng ý. Ông đưa ra một lập luận thuyết phục: “Nếu hạnh phúc là thiện hảo tối cao của bản tính hữu lý, và bất cứ thứ gì có thể bị lấy đi thì không phải là thiện hảo tối cao – vì nó bị vượt qua bởi thứ không thể bị lấy đi – thì Fortune, với chính tính hay đổi thay của mình, không thể hy vọng dẫn đến hạnh phúc.” Sự bất đáng tin của điều ta gọi là hạnh phúc khiến nó trở thành một hy vọng vô ích, hầu như không có giá trị.

Vậy nếu hạnh phúc là thứ thoáng qua, bất định, và không bao giờ đem lại sự mãn nguyện như nó hứa, thì hạnh phúc có thật là thứ đáng để chạy theo không? “Hạnh phúc phụ thuộc vào ngẫu nhiên sẽ kết thúc cùng cái chết của thân xác” (Boethius). Vì thế, bám víu vào hạnh phúc chẳng khác nào bám vào một sợi dây trơn tuột treo lơ lửng trên vực sâu. Bạn không thể làm gì để quan niệm hạnh phúc ấy trở nên “sinh lợi” theo nghĩa bạn tưởng. Boethius cho rằng cố làm cho thứ hạnh phúc vô hiệu ấy bền vững và kéo dài là điều ngốc nghếch. Ông nói theo cách khác: “thật là một sai lầm quá hiển nhiên – nghĩ rằng có thể làm tăng giá trị của một thứ bằng việc trang sức những thứ không thuộc về nó.” Vậy, một lần nữa, vấn đề nằm ở cách ta tạo hình ý niệm hạnh phúc.

Nhiều người sẽ bảo bạn công thức tốt nhất cho hạnh phúc là kết hợp giữa tình yêu lãng mạn và sự nghiệp thành công. Nhưng có thật vậy không? Nếu bạn đã hiểu Boethius, có lẽ bạn nhận ra rằng những tác nhân tạm thời này (người yêu và sự nghiệp) không thể làm bạn mãn nguyện lâu dài. Một thứ không hoàn toàn thuộc về bạn không thể cho bạn sự ổn định mà bạn khao khát.


Kierkegaard

Kierkegaard — tranh của Athamos Stradis

Søren Kierkegaard (1813–1855), triết gia vĩ đại nhất Đan Mạch, là một tiền thân sớm của chủ nghĩa hiện sinh. Dù phát biểu trực tiếp nhất của ông về hạnh phúc hơi dài dòng, nó vẫn có một nét hài hước u ám:

“Hãy cưới, và anh sẽ hối hận; đừng cưới, anh cũng sẽ hối hận; cưới hay không cưới, anh đều sẽ hối hận. Cười trước sự ngu ngốc của thế gian, anh sẽ hối hận; khóc vì nó, anh cũng sẽ hối hận; cười hay khóc trước sự ngu ngốc của thế gian, anh đều sẽ hối hận. Tin một người đàn bà, anh sẽ hối hận; không tin cô ấy, anh cũng sẽ hối hận… Treo cổ mình, anh sẽ hối hận; không treo cổ, anh cũng sẽ hối hận; treo cổ hay không, anh đều sẽ hối hận; dù anh treo cổ hay không treo cổ, anh sẽ hối hận cả hai.”
(trích Either/Or của Søren Kierkegaard)

Dù sao thì bạn cũng hiểu ý rồi. Kierkegaard và Boethius rõ ràng gặp nhau ở một số điểm. Hạnh phúc đạt được bằng cách dựa vào những yếu tố bên ngoài bản thân sẽ không bao giờ vĩnh viễn hoặc làm người ta mãn nguyện. Lại là lập luận rằng ta phải đặt nền tảng hạnh phúc vào những nguồn lực nội tại, và Kierkegaard cho rằng vì vậy ta không thể theo đuổi nó quá trực diện. Ông nói: “cánh cửa hạnh phúc mở vào phía trong, nên người ta phải lùi lại một chút để mở nó: nếu đẩy, nó sẽ khép lại ngày càng chặt.” Ta không nên dùng lực bên ngoài để tác động lên hạnh phúc; hay như Kierkegaard nói, cánh cửa hạnh phúc sẽ “đóng lại ngày càng chặt.”

Kierkegaard đi đến kết luận ấy vì ông cũng tin rằng hạnh phúc theo cách ta thường hiểu là tạm bợ, và điều đó có thể là nguyên nhân của tuyệt vọng. Boethius dí dỏm chỉ ra rằng khi không có hạnh phúc, ta vật lộn để đạt nó – và rồi, một khi đã đạt, ta lại lo lắng giữ nó, bởi dù tận hưởng đến đâu, trong đáy tâm trí ta vẫn luôn biết nó mong manh và tạm thời. Đây là lý do Kierkegaard nói mọi nỗ lực hướng đến hạnh phúc của ta rốt cuộc đều bị định mệnh dẫn đến hối tiếc.


Montaigne

Montaigne — vô danh, khoảng 1578

Michel de Montaigne (1533–1592) chọc thủng khuynh hướng ấy của con người bằng một câu gọn hơn: “Kẻ sợ mình sẽ đau khổ, ngay từ bây giờ đã đau khổ vì điều mình sợ.” Nói cách khác, vì trong hạnh phúc luôn chứa rủi ro mất hạnh phúc, nỗi sợ đó thực sự ngăn cản ta hoàn toàn đạt tới trạng thái tinh thần ấy.

Montaigne thường được xem là người khai sinh thể loại tiểu luận. Từ “essay” bắt nguồn từ động từ tiếng Pháp essayer, nghĩa là “thử” hay “toan tính”. Những mẩu viết ngắn, hấp dẫn của ông về nhiều chủ đề triết học là những “thử nghiệm” làm sáng tỏ vấn đề, chứ không phải những tuyên bố giáo điều. Cuốn sách tập hợp chúng được gọi đơn giản là Essays (Essais), và ở đó ta lại gặp những ý tưởng tương tự về việc đạt được sự mãn nguyện thật bằng cách dựa vào nguồn lực nội tại. Montaigne tập trung sát vào nền tảng tinh tế của cái mà ông gọi là hạnh phúc đích thực. Ông thừa nhận rằng những thành tựu xã hội, vật chất, thậm chí siêu hình có thể làm ta vui, nhưng không thật sự theo cách ta muốn. Ông gợi ý:

“Chúng ta nên có vợ, con, của cải, và trên hết là sức khỏe, nếu có thể, nhưng chúng ta không được ràng buộc mình vào chúng quá chặt đến mức hạnh phúc của ta phụ thuộc vào chúng. Ta phải dành riêng một ‘gian sau’ hoàn toàn thuộc về mình.”
(Essais của Montaigne, Quyển 1, Ch. 39: “Về sự cô tịch”)

Vậy như Boethius, Montaigne khuyên ta không dựa hạnh phúc vào bất cứ thứ gì vốn có thể không bền. Thay vào đó, ông bảo ta “dành riêng một gian sau”. “Gian sau” này là một thánh điện nội tâm, một phần sâu thẳm trong ta không bị thế giới bên ngoài chạm tới, tự do khỏi mọi can thiệp ngoại lai. Ông gọi đó là một không gian “nơi ta thiết lập tự do đích thực, sự cô tịch và chốn ẩn náu chủ yếu của mình.”

Kierkegaard cũng cổ vũ một sự mãn nguyện phát sinh từ bên trong, thay vì từ những ảnh hưởng bên ngoài vốn tạm bợ theo bản tính. Quan điểm của Kierkegaard là sự thinh lặng, cô tịch và tự vấn nằm sẵn trong ta, và có thể giúp ta chạm tới sự mãn nguyện mà ta lý tưởng hóa như “hạnh phúc”. Ông xem mọi thỏa mãn chóng qua như những mầm mống của bất mãn về sau và khuyên ta tập trung vào những điều tốt lành không bị hoen ố bởi thời gian, như trí tuệ và chân lý.

Boethius, Kierkegaard và Montaigne đều đồng ý rằng mãn nguyện nội tâm tốt hơn cảm giác hưng phấn cực độ tạm thời do vận may bên ngoài đem lại. Boethius ủng hộ sự ổn định nội tại ấy bằng câu chữ hay nhất:

“Nếu anh sở hữu chính mình, anh sẽ sở hữu một thứ anh không bao giờ muốn mất và Fortune cũng không thể lấy đi.”

Sự ổn định nội tại này, theo Boethius, đến từ năng lực lý trí của con người, vì chỉ có lý trí mới có thể làm người ta trở nên dửng dưng trước số phận của chính mình. Trí tuệ có thể khiến ta nhận ra không có triển vọng mãn nguyện trong những thứ bất ổn, và mọi thứ Fortune đem đến đều được tẩm bởi sự bất ổn độc hại ấy. Với Fortune, Boethius không chỉ nói đến một cú “trúng số” giải quyết mọi vấn đề, mà là mọi điều tốt xảy đến với ta mà không do nỗ lực của ta: một món quà nhỏ từ người thương, hay nụ cười của một đứa bé. Những điều đó làm ta vui, nhưng chúng là lực bên ngoài. Định mệnh can thiệp vào đời ta, để ta gần như không kiểm soát được chính mình. Ta không thể ngăn một đứa bé mỉm cười, và ta cũng không cố tình ngăn người mình yêu tặng hoa – thứ họ đã dồn nhiều suy nghĩ. Nhưng khi đứa bé không còn cười với ta nữa (có lẽ vì gương mặt ta đã mất nét duyên), hoặc khi chẳng còn ai để tặng ta dù chỉ một bông hoa, đó là lúc ta chắc chắn sẽ trải nghiệm một nỗi hoang tàn đủ để nghiền nát trái tim vốn đã vỡ vụn. Boethius mời ta nhìn trước tất cả điều ấy bằng sự sáng rõ và can đảm, rồi dùng trí tuệ để nhận diện điều gì là bất ổn, và bám chặt lấy chỉ những gì vốn thuộc về ta một cách tự thân.

Trải qua mười ba thế kỷ ngăn cách, ba triết gia rất khác nhau, thuộc những truyền thống trí thức rất khác nhau, lại diễn đạt những trực giác chồng lấp về hạnh phúc và bất hạnh. Sau cùng, mỗi người đều quy về ý niệm rằng lý do ta không hạnh phúc không phải vì ta không luôn luôn chạy theo hạnh phúc, mà vì ta có một quan niệm sai về hạnh phúc là gì. Hạnh phúc không phải thiện hảo tối cao, cũng không phải thứ để chết vì. Nó – dù nghe sáo mòn – là điều hiện diện bên trong mỗi chúng ta. Tất cả những gì ta cần để chạm tới nó là một tâm trí cởi mở và sự trung thực khi quay vào nội tâm. Nếu vậy, ta không cần phải “tưởng tượng” Sisyphus hạnh phúc; trái lại, Sisyphus “hạnh phúc” thật sự và mãi mãi.

© Abdullah Rayhan 2025

Abdullah Rayhan là giảng viên Văn học Anh sống tại Bangladesh.

Author

Trung Khang
Trung Khang

Chuyên viết tin tức và bài phân tích về Giáo hội Công giáo và các vấn đề tôn giáo – xã hội quốc tế.

Đăng ký để tham gia thảo luận.

Hãy tạo một tài khoản miễn phí để trở thành thành viên và cùng tham gia bình luận.

Already have an account? Sign in

ĐỌC THÊM

Đăng ký nhận bản tin từ Kênh Công Giáo - Ephata Catholic Media

Luôn cập nhật những bài viết và tin tức chọn lọc mới nhất.

Vui lòng kiểm tra email để xác nhận. Có lỗi xảy ra, vui lòng thử lại.