Tại Vương cung thánh đường Đức Bà Châu Phi ở Algiers, một nơi thờ phượng của cả người Hồi giáo, Đức Thánh Cha Lê-ô XIV đã gặp gỡ cộng đồng địa phương. Ngài kêu gọi họ hãy nhìn vào hình ảnh sa mạc, nơi chiếm phần lớn diện tích đất nước, để nhận ra sự yếu đuối của chính mình trước “bất kỳ sự tự phụ nào”. Cuối cùng, ngài cùng mọi người cầu nguyện trong im lặng trước đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu.
Từ Trung tâm đón tiếp và tình bạn của các nữ tu Dòng Truyền giáo Au-gút-ti-nô, Đức Thánh Cha đã di chuyển đến Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi cách đó hơn 1 km để gặp gỡ cộng đoàn Algeria.
Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi tọa lạc trên mũi đất cao 124m nhìn ra biển. Nguồn gốc gắn với tượng Đức Mẹ bằng đồng được tặng cho Đức Cha Antoine-Louis-Adolphe Dupuch, Giám mục đầu tiên của giáo phận Algiers vào năm 1840. Sau tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854), vương cung thánh đường được xây từ 1858, hoàn tất năm 1872. Công trình bị hư hại nặng do động đất năm 2003 và được trùng tu suốt bảy năm. Bàn thờ chính của nhà thờ có tôn kính tượng Đức Mẹ Đen, được bao quanh bởi hai nhà nguyện: một kính Thánh Au-gút-ti-nô và một kính Thánh Monica và tưởng niệm 19 vị tử đạo Algeria. Nhà thờ là nơi gặp gỡ đối thoại, cả tín hữu Hồi giáo cũng hành hương đến đây.
Vào nhà thờ, trước hết Đức Thánh Cha dừng lại chầu Thánh Thể trong giây lát và sau đó dâng hoa kính Đức Mẹ.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Chào đón Đức Thánh Cha, Đức Hồng y Jean Vasco, Tổng Giám mục của Algiers nhận định rằng từ Vương cung Thánh đường Đức Bà Châu Phi, Tin Mừng được loan báo đến nhiều quốc gia châu Phi. Do đó, việc Đức Thánh Cha bắt đầu chuyến tông du đầu tiên tại châu Phi từ nơi đây mang ý nghĩa đặc biệt.
Đức Hồng y cho biết nhà thờ này là không gian gặp gỡ và tình huynh đệ, nơi mà chín trong số mười người bước qua ngưỡng cửa nhà thờ là người Hồi giáo. Đức Maria, được gọi cách thân thương là “Đức Bà Châu Phi”, được ghi khắc trong di sản và tâm hồn người Algeria. Dòng chữ “xin cầu cho chúng con và cho người Hồi giáo” diễn tả ơn gọi mẫu tử phổ quát của Đức Mẹ và sứ mạng của thánh đường trong việc đón tiếp, đối thoại và tổ chức các sinh hoạt liên tôn.
Ngài nói thêm rằng Giáo hội tại đây được ví như một bức khảm đa dạng, gồm nhiều quốc tịch, vừa thuộc về Algeria vừa mang tính hoàn vũ. Các cộng đoàn sống tinh thần hiệp nhất đại kết với nhiều hệ phái Kitô giáo và duy trì tình huynh đệ với các tôn giáo khác, kể cả Do Thái giáo.
Đức Hồng y cũng nhắc đến những người vắng mặt, đặc biệt là các tù nhân và người di cư, những người tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn. Họ cần lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha, đồng thời chắc chắn cũng cầu nguyện cho ngài.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Tiếp tục cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha và cộng đoàn đã lắng nghe các chứng từ, của một nữ tu, một nữ sinh viên Tin Lành, một người hướng dẫn các du khách viếng nhà thờ, và cuối cùng là một người Hồi giáo.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Và Đức Thánh Cha ngỏ lời với cộng đoàn:
Diễn văn của Đức Thánh Cha
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an ở cùng anh chị em!
Anh em trong hàng Giám mục thân mến,
các linh mục và phó tế, tu sĩ nam nữ
và các con yêu dấu của Giáo Hội tại Algeria,
Với niềm vui sâu xa và tình phụ tử, hôm nay tôi được gặp gỡ anh chị em, những người hiện diện âm thầm nhưng quý giá trên mảnh đất này, một sự hiện diện được ghi dấu bởi một di sản cổ kính và bởi những chứng nhân rạng ngời của đức tin.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Lời mời gọi trở nên những dấu chỉ đích thực của hiệp thông, đối thoại và hòa bình
Cộng đoàn của anh chị em thực sự có những cội rễ sâu xa. Anh chị em là những người thừa kế của biết bao chứng nhân đã hiến dâng mạng sống mình, được thúc đẩy bởi tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tôi đặc biệt nhớ đến mười chín tu sĩ nam nữ đã tử đạo tại Algeria, những người đã chọn ở lại bên cạnh dân tộc này trong niềm vui cũng như nỗi buồn của họ. Máu của các ngài là hạt giống sống động không ngừng sinh hoa kết trái.
Anh chị em cũng là những người thừa kế của một truyền thống còn cổ xưa hơn nữa, bắt nguồn từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo. Trên mảnh đất này đã vang lên tiếng nói nhiệt thành của Thánh Au-gút-ti-nô thành Hippo, được đi trước bởi chứng tá của thân mẫu ngài, Thánh Mô-ni-ca, và của nhiều vị thánh khác. Ký ức về các ngài tỏa sáng như một lời mời gọi hôm nay hãy trở nên những dấu chỉ đích thực của hiệp thông, đối thoại và hòa bình.
Với tất cả anh chị em, những người bạn thân mến, và cả những người không thể hiện diện nhưng đang theo dõi cuộc gặp gỡ này từ xa, tôi bày tỏ lòng biết ơn vì sự dấn thân hằng ngày của anh chị em trong việc biểu lộ trái tim hiền mẫu của Giáo Hội. Tôi cảm ơn Đức Hồng y vì những lời chia sẻ của ngài, cũng như Rakel, Ali, Monia và Sơ Bernadette vì những gì họ đã chia sẻ. Dựa trên những gì chúng ta đã nghe, tôi muốn cùng anh chị em dừng lại và suy tư về ba khía cạnh của đời sống Kitô hữu mà tôi cho là thiết yếu, đặc biệt trong bối cảnh sự hiện diện của anh chị em nơi đây: cầu nguyện, bác ái và hiệp nhất.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
“Con người không thể sống mà không cầu nguyện”
Trước hết là cầu nguyện. Tất cả chúng ta đều cần cầu nguyện. Thánh Gio-an Phao-lô II đã nhấn mạnh điều này khi nói với các bạn trẻ: “Con người không thể sống mà không cầu nguyện, cũng như không thể sống mà không thở” (Cuộc gặp gỡ với các bạn trẻ Hồi giáo tại Casablanca, 19 tháng 8 năm 1985, số 4). Ngài trình bày cuộc đối thoại với Thiên Chúa như điều không thể thiếu, không chỉ cho đời sống của Giáo Hội mà còn cho mỗi cá nhân. Thánh Charles de Foucauld cũng nhận ra điều này và đã sống ơn gọi của mình như một sự hiện diện cầu nguyện. Ngài viết: “Tôi hạnh phúc, hạnh phúc được ở trước Thánh Thể mọi lúc” (Thư gửi Raymond de Blic, 9 tháng 12 năm 1907) và khuyến khích người khác: “Hãy cầu nguyện nhiều cho tha nhân. Hãy tận hiến mình cho phần rỗi của tha nhân bằng mọi phương thế trong khả năng của bạn: bằng cầu nguyện, bằng lòng tốt, bằng gương sáng” (Thư gửi Louis Massignon, 1 tháng 8 năm 1916).
Nói về nhu cầu cầu nguyện, Ali đã chia sẻ kinh nghiệm phục vụ tại nhà thờ Đức Bà Châu Phi, nơi nhiều người đến để đi vào thinh lặng, để bày tỏ những ưu tư của mình, để cầu nguyện cho những người thân yêu, và để gặp một người sẵn sàng lắng nghe họ hầu họ có thể chia sẻ những gánh nặng trong lòng. Anh nhận thấy rằng nhiều người tìm được bình an nơi đây và vui mừng vì đã đến. Cầu nguyện hiệp nhất, nhân bản hóa, củng cố và thanh luyện tâm hồn. Qua cầu nguyện, Giáo Hội tại Algeria gieo vãi lòng nhân đạo, sự hiệp nhất, sức mạnh và sự tinh tuyền, vươn tới những nơi chỉ một mình Thiên Chúa biết.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Hành động bác ái là cơ hội của ân sủng
Khía cạnh thứ hai của đời sống Giáo Hội mà tôi muốn suy tư là bác ái. Sơ Bernadette đã đặc biệt nói với chúng ta về điều này khi chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ các trẻ em khuyết tật và cha mẹ của các em. Qua những gì sơ chia sẻ, chúng ta hiểu rằng lòng thương xót và sự phục vụ không chỉ đơn thuần là cung cấp trợ giúp vật chất cho những người yếu đuối nhất giữa chúng ta. Trên hết, những hành động ấy trở thành cơ hội của ân sủng, giúp mọi người liên hệ được tăng trưởng và được phong phú hơn. Sơ Bernadette đã giải thích làm thế nào một cử chỉ gần gũi đơn sơ ban đầu, là thăm viếng người bệnh, đã nảy nở, trước hết, thành một trung tâm cộng đồng, rồi thành một tổ chức chăm sóc ngày càng có cơ cấu. Hiện nay, nơi ấy đã trở thành một cộng đoàn đích thực, nơi nhiều người cùng chia sẻ những khoảnh khắc vui buồn, liên kết với nhau bằng lòng tín nhiệm, tình bạn và sự hiệp thông. Một môi trường như thế mang lại sự sống và chữa lành, và không lạ gì khi những người đau khổ có thể tìm thấy nơi đó những nguồn lực giúp cải thiện sức khỏe, đồng thời mang lại niềm vui cho người khác, như trường hợp của Fatima.
Quả thật, chính tình yêu đối với anh chị em đã thúc đẩy chứng tá của các vị tử đạo mà chúng ta đã tưởng nhớ. Trước hận thù và bạo lực, các ngài vẫn trung thành với đức ái cho đến hiến dâng chính mình cùng với nhiều người nam nữ khác, cả Kitô hữu lẫn Hồi giáo. Các ngài đã làm điều đó không phô trương, không ồn ào, nhưng trong sự thanh thản và kiên vững, không rơi vào tự phụ cũng không tuyệt vọng, vì các ngài biết Đấng mà mình đã đặt trọn niềm tin (x. 2 Tm 1,12). Nhân danh tất cả các ngài, chúng ta có thể nhắc lại những lời đơn sơ của thầy Luc, vị tu sĩ cao tuổi và là bác sĩ của cộng đoàn Notre-Dame de l’Atlas. Khi được đề nghị rời đi để tự cứu mình khỏi những nguy hiểm có thể xảy ra, với cái giá là bỏ lại các bệnh nhân và bạn hữu, thầy đã trả lời: “Tôi muốn ở lại với họ” (C. Henning – T. Georgeon, Fratel Luc di Tibhirine. Monaco, medico e martire, Vatican City 2025, Lời mở đầu), và thầy đã làm như vậy. Nhân dịp lễ tuyên phong chân phước cho các ngài, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói về thầy và tất cả các vị khác: “Chứng tá can đảm của họ là nguồn hy vọng cho cộng đoàn Công giáo tại Algeria và là hạt giống đối thoại cho toàn xã hội. Ước gì việc tuyên phong chân phước này trở nên nguồn cảm hứng cho mọi người cùng nhau xây dựng một thế giới huynh đệ và liên đới” (8 tháng 12 năm 2018).

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Ngôi thánh đường này là dấu chỉ của ước muốn hòa bình và hiệp nhất
Và như thế chúng ta đến điểm thứ ba trong suy tư: dấn thân cổ võ hòa bình và hiệp nhất. Khẩu hiệu của chuyến thăm này được lấy từ lời của Đức Giê-su Phục Sinh: “Bình an cho anh em!” (x. Ga 20,21). Trong một bản khắc giữa các bức tranh khảm ở Tipasa, người ta đọc thấy: “In Deo, pax et concordia sit convivio nostro”, có thể dịch là: “Trong Thiên Chúa, ước gì bình an và hòa hợp ngự trị trong đời sống chung của chúng ta”. Bình an và hòa hợp đã là những đặc tính căn bản của cộng đoàn Ki-tô hữu ngay từ thuở ban đầu (x. Cv 2,42-47), theo đúng ước muốn của chính Đức Giêsu (x. Ga 17,23), Đấng đã nói: “Cứ dấu này mà mọi người nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau” (Ga 13,35). Thánh Au-gút-ti-nô, trong bối cảnh này, khẳng định rằng Giáo Hội “sinh ra những dân tộc khác nhau, nhưng họ là chi thể của Đấng mà Giáo Hội là thân thể” (Bài giảng 192, 2), và thánh Cyprianô viết: “Bình an và sự hiệp nhất huynh đệ của chúng ta là hy lễ cao cả hơn dâng lên Thiên Chúa, và một dân được hiệp nhất nên một, trong sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Kinh Lạy Cha, 23). Thật đẹp khi hôm nay chúng ta được nghe nhiều lời nói và chứng từ khác nhau vang vọng trong những gì chúng ta đã được nghe.
Như Đức Hồng y đã nhắc đến, chính ngôi thánh đường này là dấu chỉ của ước muốn hòa bình và hiệp nhất của chúng ta. Nơi đây tượng trưng cho một Giáo Hội gồm những viên đá sống động, nơi sự hiệp thông giữa Ki-tô hữu và người Hồi giáo được hình thành dưới tà áo của Đức Bà Châu Phi. Tại đây, tình mẫu tử của Lalla Meryem quy tụ mọi người như những người con, trong sự đa dạng phong phú của chúng ta, trong khát vọng chung về phẩm giá, tình yêu, công lý và hòa bình. Tất cả con cái của Mẹ đều khao khát cùng nhau bước đi, cùng sống, cầu nguyện, làm việc và mơ ước, bởi vì đức tin không cô lập nhưng mở ra; đức tin hiệp nhất chúng ta nhưng không gây xáo trộn; đức tin đưa chúng ta lại gần nhau mà không đồng nhất hóa, và nuôi dưỡng một tình huynh đệ đích thực. Đó chính là điều Monia đã nói với chúng ta. Rakel cũng chia sẻ cùng một tâm tình ấy trong chứng từ về kinh nghiệm của chị tại tổ chức Tlemcen Fellowship. Trong một thế giới nơi chia rẽ và chiến tranh gieo rắc đau khổ và cái chết giữa các dân tộc, trong các cộng đoàn, và cả trong các gia đình, kinh nghiệm hiệp nhất và hòa bình của anh chị em là một dấu chỉ mạnh mẽ. Cùng nhau, anh chị em lan tỏa tình huynh đệ và khơi dậy một khát vọng sâu xa về hiệp thông và hòa giải bằng một sứ điệp rõ ràng và mạnh mẽ, được diễn tả trong sự đơn sơ và khiêm tốn.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Chúng ta cần đến nhau, và chúng ta cần đến Thiên Chúa
Phần lớn lãnh thổ của quốc gia này là sa mạc, và trong sa mạc, không ai có thể sống một mình. Môi trường khắc nghiệt xóa tan mọi ảo tưởng rằng chỉ tự mình là đủ, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cần đến nhau, và chúng ta cần đến Thiên Chúa. Khi chúng ta nhìn nhận sự mong manh của mình, lòng chúng ta mở ra để nâng đỡ nhau và để kêu cầu Đấng có thể ban điều mà không sức mạnh nhân loại nào bảo đảm được: đó là sự hòa giải sâu xa của các tâm hồn và, cùng với đó, là nền hòa bình đích thực.
Vì thế, anh chị em thân mến, tôi khích lệ anh chị em tiếp tục công việc của mình tại Algeria như một cộng đoàn đức tin hiệp nhất và cởi mở, như một sự hiện diện sống động của Giáo Hội, “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, 48). Tôi cảm ơn anh chị em vì tất cả những gì anh chị em đang thực hiện, vì lời cầu nguyện, vì lòng bác ái và chứng tá hiệp nhất của anh chị em. Tôi bảo đảm nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện của tôi trước mặt Chúa, và khi phó thác anh chị em cho Đức Maria, Đức Bà Châu Phi, tôi thân ái ban phép lành cho anh chị em.

Đức Thánh Cha gặp gỡ cộng đoàn Algeria tại Vương cung Thánh Đường Đức Bà Châu Phi (@Vatican Media)
Cầu nguyện trước tượng đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu
Rời khỏi Vương cung thánh đường, Đức Thánh Cha dừng lại cầu nguyện trước đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu. Sau đó, ngài trở về Tòa Sứ thần cách đó khoảng 200 m và gặp riêng các Giám mục Algeria.

Đức Thánh Cha cầu nguyện trước tượng đài tưởng niệm các nạn nhân của những vụ đắm tàu (@Vatican Media)
Nguồn: Vatican News
Author
Các Bài của tác giả Minh Đức được tổng hợp tự động từ Website của các Giáo Phận.