Đi tìm nguồn gốc chữ Quốc ngữ Việt Nam: Quá trình hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ (thế kỷ 17 đến nay)

Dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha, những giáo sĩ như Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha) đã học tiếng Việt, bắt đầu xây dựng phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh.

Chữ Quốc ngữ – hệ chữ viết Latinh của tiếng Việt – xuất hiện từ đầu thế kỷ 17, do các giáo sĩ Dòng Tên phương Tây khởi xướng trong quá trình truyền giáo ở Việt Nam. Dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha, những giáo sĩ như Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha) đã học tiếng Việt, bắt đầu xây dựng phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh. Tiếng Việt thời đó vẫn là tiếng nói như hiện nay nhưng chưa có chữ viết riêng dễ học; giới trí thức sử dụng chữ Hán (chữ Nho) trong văn bản chính thức, và một hệ chữ do người Việt sáng tạo dựa trên chữ Hán gọi là chữ Nôm để ghi tiếng bản địa. Tuy nhiên, chữ Hán đã khó, chữ Nôm lại càng phức tạp – muốn viết được chữ Nôm phải tinh thông chữ Hán, nên việc phổ biến chữ viết cho số đông dân chúng là cực kỳ hạn chế. Chính vì rào cản đó, các giáo sĩ Dòng Tên đã nghĩ đến việc “La-tinh hóa” tiếng Việt, tương tự như cách họ đã La-tinh hóa chữ viết tại một số nơi ở châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản.

Những nỗ lực ban đầu diễn ra ở miền Trung Việt Nam. Năm 1617, Pina đến Hội An và vùng Thanh Chiêm (Quảng Nam) lập cư sở truyền giáo, nhanh chóng trở thành người phương Tây thông thạo tiếng Việt nhất thời bấy giờ. Ông cùng một số đồng nghiệp đã từng La-tinh hóa tiếng Nhật, tiếng Hán… bắt tay vào ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Tiếp nối Pina, nhiều giáo sĩ khác như Gaspar do Amaral, Antônio Barbosa (người Bồ Đào Nha), Cristoforo Borri (người Ý)… cũng tham gia phát triển hệ thống ký âm mới. Năm 1624, linh mục Alexandre de Rhodes (người Pháp, tên Việt là Đắc Lộ) đặt chân đến Đàng Trong, học tiếng Việt (ông cũng từng là học trò của Pina). Ông đã kế thừa đáng kể thành quả từ các vị tiền nhiệm: sử dụng bản thảo hai cuốn từ điển Việt–Bồ và Bồ–Việt do Amaral và Barbosa biên soạn dở dang (nhưng chưa kịp in do hai ông qua đời), cùng với di cảo ghi chép của chính thầy mình là Pina. Thành quả là năm 1651, Alexandre de Rhodes cho xuất bản tại Roma bộ từ điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Việt–Bồ–La) – cuốn từ điển ba ngôn ngữ đầu tiên của tiếng Việt, kèm theo một chuyên luận ngữ pháp tiếng “Annam”. Cũng trong năm đó, ông in cuốn Phép giảng tám ngày – sách giáo lý Công giáo bằng chữ Quốc ngữ, song song bản Latin – đánh dấu lần đầu tiên tiếng Việt được in ấn hoàn toàn bằng mẫu tự Latinh. Từ nền tảng này, chữ Quốc ngữ dần định hình; trải qua vài chỉnh lý cuối thế kỷ 18 (đặc biệt với tự vị do Giám mục Pigneau de Béhaine biên soạn, in năm 1773 và hậu thân là từ điển Taberd 1838), hệ thống chính tả chữ Quốc ngữ cơ bản ổn định như ngày nay.

Tuy ra đời từ thế kỷ 17, chữ Quốc ngữ trong gần 300 năm tiếp theo vẫn chưa được sử dụng rộng rãi ngoài phạm vi cộng đồng Công giáo. Chữ Hán và chữ Nôm tiếp tục là văn tự chính thống của quốc gia, được mọi tầng lớp có học sử dụng, do đó chưa có lý do để thay thế chúng bằng hệ chữ mới lạ. Suốt thời kỳ phong kiến, không có một quyết định chính thức nào của triều đình về việc công nhận chữ Quốc ngữ. Mãi đến nửa sau thế kỷ 19, cục diện mới thay đổi khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Chính quyền thuộc địa Pháp quyết tâm loại bỏ ảnh hưởng chữ Hán, củng cố việc “châu Âu hóa” chữ viết tiếng Việt nhằm thuận lợi cho việc truyền bá tiếng Pháp và văn hóa phương Tây. Tên gọi “chữ Quốc ngữ” (để chỉ chữ Latinh tiếng Việt) cũng được xác lập trong giai đoạn này – từ khoảng năm 1867, học giả Trương Vĩnh Ký đã dùng thuật ngữ “chữ quốc ngữ” trên tờ Gia Định báo để chỉ lối chữ Việt bằng mẫu tự Latinh.

Năm 1865, tờ Gia Định báo ra số đầu tiên tại Sài Gòn – tờ báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, do Trương Vĩnh Ký làm chủ bút. Sau khi chiếm được ba tỉnh Đông Nam Kỳ, chính quyền Pháp bắt đầu chính sách dùng chữ Quốc ngữ song song tiếng Pháp trong bộ máy hành chính. Tháng 2/1869, Phó đề đốc Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán trong công văn tại Nam Kỳ. Các sắc lệnh tiếp theo yêu cầu toàn bộ giấy tờ hành chính ở Nam Kỳ chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ (hạn chót năm 1882), quan lại bản xứ nếu không biết quốc ngữ sẽ không được bổ nhiệm hoặc thăng chức. Từ 1879, nhà cầm quyền đưa chữ Quốc ngữ vào giáo dục phổ thông tại các làng xã ở Nam Kỳ; đồng thời ban hành chính sách miễn hoặc giảm sưu thuế cho các thân hào địa phương biết đọc viết chữ Quốc ngữ, nhằm khuyến khích giới tinh hoa bản xứ học thứ chữ này. Những biện pháp mạnh mẽ và thực dụng ấy nhanh chóng phát huy tác dụng: chỉ trong vài thập niên cuối thế kỷ 19, chữ Quốc ngữ từ chỗ bị coi thường đã trở nên thông dụng ở Nam Kỳ, lan ra toàn quốc vào đầu thế kỷ 20.

“Nội dung còn lại chỉ dành cho thành viên.”

Trở thành thành viên miễn phí để đọc nội dung này và nhiều nội dung hấp dẫn khác

Nếu đã đăng ký tài khoản rồi thì hãy Sign in

Author

Trung Khang
Trung Khang

Chuyên viết tin tức và bài phân tích về Giáo hội Công giáo và các vấn đề tôn giáo – xã hội quốc tế.

Đăng ký để tham gia thảo luận.

Hãy tạo một tài khoản miễn phí để trở thành thành viên và cùng tham gia bình luận.

Already have an account? Sign in

ĐỌC THÊM

Đăng ký nhận bản tin từ Kênh Công Giáo - Ephata Catholic Media

Luôn cập nhật những bài viết và tin tức chọn lọc mới nhất.

Vui lòng kiểm tra email để xác nhận. Có lỗi xảy ra, vui lòng thử lại.